Lẽ Sống: Emmaus

06:58 |

Lẽ Sống

13/04/2014


13 Tháng Tư

    Emmaus
    
    Nói đến những người không nhà không cửa, người ta thường nhắc đến cha Henri Groués quen được gọi tắt là cha Pierre, người đã sáng lập cộng đồng Emmaus nhằm giúp những người bần cùng tự tay xây dựng cuộc sống của họ.

    Phong trào cộng đồng Emmaus khởi sự bằng một căn nhà đổ nát ở vòng đai của thành phố Paris vào hồi đệ nhị thế chiến. Những người khách đầu tiên của tổ ấm này là các thanh thiếu niên bụi đời, những người không nhà không cửa, hoặc các tù nhân vừa được phóng thích.

    Câu nói đầu tiên của cha Pierre với những người mới đặt chân đến cộng đồng là : "Bạn không được may mắn, nhưng tôi cần bạn để giúp đỡ những người khác...". Dù khổ sở đến đâu, ai cũng muốn người khác nhìn nhận giá trị của mình, ai cũng muốn trở thành hữu ích cho người khác. Ðó là niềm tin mà cha Pierre luôn khơi dậy nơi những người đã mất tất cả hy vọng.

    Cha Pierre đặt tên Emmaus cho cộng đồng của Ngài là để nhớ lại câu chuyện của hai người môn đệ Chúa Giêsu trong buổi chiều Phục Sinh. Cũng như hai người môn đệ này, giữa lúc họ tưởng như mất tất cả, Chúa Giêsu đã hiện đến mang lại niềm tin cho họ. Cũng thế, cha Pierre và những người bạn đầu tiên của Ngài đã tìm gặp được hứng khởi, niềm tin yêu giữa những mất mát ê chề của cuộc sống.

    Tạo lại niềm hy vọng vào cuộc sống đó là khẩu lệnh của cha Pierre, và xây dựng lại niềm hy vọng đó từ những đổ nát, mất mát. Chính vì thế mà cộng đồng Emmaus chủ trương đi thu nhặt lại các đồ phế thải, các vật dụng cũ kỹ để chế biến và bán lại, như một sản phẩm cho chính tay mình làm nên.

    Hiện nay phong trào đã có mặt tại 50 quốc gia trên thế giới với khoảng 290 cộng đồng. Tất cả mọi người trong cộng đồng đều sống với niềm hy vọng từ những đổ nát và mất mát trong cuộc sống.

    Tin Mừng của Thánh Luca thuật lại rằng, buổi chiều hôm đó, có hai người môn đệ của Chúa Giêsu lên đường đi Emmaus, trở về làng cũ của họ.

    Cái chết của Chúa Giêsu là một chấm hết đối với họ: hết mộng công hầu khanh tướng, hết giấc mơ của một nước Israel thịnh vượng, hết mọi hy vọng. Trở về làng cũ tức là trở về với thất vọng ê chề. Nhưng cũng chính lúc đó, Chúa Giêsu đã hiện ra với họ, cái chết mang một ý nghĩa mới, mất mát đã trở thành khởi đầu của lợi lộc, thất bại trở thành khởi điểm của thành công, buồn phiền đã biến thành vui mừng hân hoan... Ánh sáng Phục Sinh của Chúa Giêsu đã mặc cho mọi biến cố của cuộc sống một ý nghĩa mới. Tin tưởng lạc quan đã trở thành nhân đức cơ bản của đời Kitô.

    Ở bất cứ nơi đâu và ở bất cứ thời đại nào, sau một lần đổ nát, người ta thường hát lên điệp khúc: Hãy xây dựng lại từ đổ nát!

    Ðó là niềm tin mà hơn bất cứ lúc nào chúng ta cần phải bám lấy... Bạn đang sầu khổ vì những mất mát ê chề trong cuộc sống ư? Bạn đang quằn quại trong đau khổ của thể xác và tinh thần ư? Bạn đang cảm thấy mình ở dưới vực thẳm của tội lỗi ư?

    Chúa Giêsu của thành Emmaus đang nói với bạn: đừng thất vọng, Ngài đang đồng hành với bạn, và với Ngài, bạn có thể xây dựng được một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Đọc thêm…
Comments
0 Comments

Thánh Giáo Hoàng Martin

06:58 |
13/04/2014
Thánh Giáo Hoàng Martin
    (c. 655)

   
    Khi Ðức Martin I làm giáo hoàng năm 649, Constantinople là thủ đô của Ðế Quốc Byzantine và Ðức Thượng Phụ Constantinople là vị lãnh đạo Giáo Hội có thế lực nhất của Kitô Hữu Ðông Phương. Những tranh chấp hiện có trong Giáo Hội hoàn vũ thời bấy giờ lại càng thêm quyết liệt bởi sự cộng tác chặt chẽ giữa hoàng đế và đức thượng phụ.

    Một giáo huấn được Giáo Hội Ðông Phương quyết liệt bảo vệ là cho rằng Ðức Kitô không có ý chí của loài người (*). Ðã hai lần, các hoàng đế chính thức lên tiếng bảo vệ lập trường này, lần đầu Hoàng Ðế Heraclius cho công bố bản tuyên xưng đức tin, và sau đó Hoàng Ðế Constant II ra lệnh bác bỏ vấn đề Ðức Kitô có một hoặc hai ý chí.

    Trước khi được chọn làm giáo hoàng, Ðức Martin từng là người đọc sách và là phó tế. Và sau khi nhậm chức không lâu, Ðức Martin đã tổ chức một công đồng ở Latêranô mà trong đó các sắc lệnh của vua bị kiểm duyệt, và đức thượng phụ của Constantinople cũng như hai vị tiền nhiệm đều bị lên án là sai lạc. Ðể đối phó, Hoàng Ðế Constant II cố vận động các giám mục và dân chúng chống đối đức giáo hoàng.

    Sau khi thất bại trong mưu toan này, hoàng đế sai Olympius, quan tổng trấn Ravenna, bắt đức giáo hoàng đưa về Constantinople xét xử. Nhưng Olympius thất bại, và đến năm 653, quan tổng trấn mới là Theodore Collipas đã xâm chiếm Rôma và bắt giam đức giáo hoàng ở Naxos trong một năm trời. Sau khi điệu về Constantinople, Ðức Martin bị kết tội phản loạn và bị tử hình. Mặc dù các tra tấn đã được thi hành, Ðức Martin được thoát án tử nhờ sự can thiệp của Ðức Phaolô II, vị thượng phụ của Constantinope, là người đã ăn năn sám hối về hành động của mình. Bản án tử hình được đổi thành khổ sai chung thân.

    Vì hậu quả của các cuộc tra tấn và cực hình, Ðức Martin đã từ trần sau đó không lâu. Ngài là vị giáo hoàng sau cùng chịu tử đạo.

    Lời Bàn

    Ý nghĩa thực sự của chữ tử đạo không phải là sự chết, mà là sự làm chứng. Vị tử đạo sẵn sàng hy sinh mọi sự, quý giá nhất là sinh mạng của họ, và đặt đức tin lên trên hết. Tử đạo, chết vì đức tin, là một cao độ bất ngờ mà một số người phải trải qua để thể hiện đức tin của mình nơi Ðức Kitô. Một đức tin sống động, một cuộc đời theo gương Ðức Kitô bất kể những khó khăn, đó là sự đòi hỏi của tất cả Kitô Hữu.

    
    (*) Lạc thuyết độc chí (monothelitism) cho rằng Ðức Kitô chỉ có một ý chí độc nhất là ý chí Thiên Chúa.
Đọc thêm…
Comments
0 Comments

Suy niệm: CHÚA NHẬT LỄ LÁ – A

06:57 |
CHÚA NHẬT LỄ LÁ – A

Tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa         
  Mt 21,1-11
   Bài Thương Khó: Mt 26,14-27-66

ÁNH SÁNG LÒNG THƯƠNG XÓT

Các môn đệ dắt lừa mẹ và lừa con về, trải áo choàng của mình trên lưng chúng, và Đức Giê-su cỡi lên... Đám đông reo hò vang dậy: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời.” (Mt 21,7.9)

Suy niệm: Ngày Lễ Lá khởi đầu bằng một niềm vui, niềm vui rước Chúa vào thành như một vị vua, và kết thúc bằng một nỗi buồn, nỗi buồn Chúa chịu khổ nạn. Bài Thương Khó ngày Lễ Lá còn đem đến cho ta bao điều tương phản khác: môn đệ hèn nhát chạy trốn, Phi-la-tô hèn nhát rửa tay, Thầy can đảm bình thản đón nhận; tương phản với lửa hận thù hừng hực, Đức Giê-su luôn tỏa ánh sáng dịu dàng của lòng thương xót: thương xót Phê-rô, thương xót người trộm hối cải, thương xót tha thứ cho quân lính độc ác, và cho cả người Do-thái đang nhạo cười; đối diện với những bạo tàn đến cực độ của con người, Đức Giê-su lại bày tỏ lòng yêu mến cho đến tận cùng của mình.

Mời Bạn cảm nhận được lòng thương xót của Chúa dành cho bạn. Bạn đừng sống tuần thánh, những ngày khổ nạn của Chúa, như một khách qua đường, như đang xem một cuộn phim, mà hãy sống với cả tâm tình yêu mến của mình.

Chia sẻ: Trong Tuần Thánh này, tôi, gia đình tôi, nhóm của tôi sẽ làm gì để chia sẻ đau khổ của Chúa nơi những anh chị em chung quanh?

Sống Lời Chúa: Dành thời gian đọc cả bài hoặc một phần bài Thương khó, để nhận ra và cảm nếm tình thương của Chúa qua từng hoạt cảnh ấy.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, chúng con cảm tạ Chúa đã luôn bày tỏ lòng thương xót yêu thương trong cuộc Khổ nạn. Xin cho chúng con cũng biết sống lòng thương xót ấy với mọi người.

Đọc thêm…
Comments
0 Comments

Người vô thần tin sự sống lại

06:56 |


Người vô thần tin sự sống lại

Một cặp vợ chồng vô thần đi lạc vào vùng đất thánh. Chẳng may ông chồng bị bệnh đau tim chết. Nhân viên nhà quàng nói với bà vợ:

- Nếu chôn ông nhà ở đây thì giá chỉ có một ngàn đô. Còn nếu muốn mang về Mỹ chôn thì mười ngàn đô.

Suy nghĩ chết là hết, dại gì trả 10 ngàn đô mang xác chồng về, bà móc một ngàn đô ra và nói:

- Tôi đồng ý chôn chồng tôi ở đây.

Đến ngày thứ ba, bà vội vàng chạy đi tìm nhân viên nhà quảng và nói muốn đào hòm lên mang về Mỹ chôn. Nhân viên ngạc nhiên nói:

- Đã nặng mùi rồi. Bà muốn đào lên mang về Mỹ  thì tốn tiền lắm. Mà sao bà lại đòi gấp như thế?

Bà trả lời:

- Hôm qua, tôi đọc lịch sử thì được biết cách đây hơn hai ngàn năm, ở nơi đây, có một người tên là Ladarô cũng chết đã năng mùi, nhưng ngày thứ tư thì ông được phép lạ sống lại. Tôi không muốn ngày mai có trường hợp thứ hai xảy ra.

Nhân viên trố mắt: ??? !!!!
  


Đọc thêm…
Comments
0 Comments

Phỏng theo tư tưởng của Thánh Tê-rê-xa Cal-cut-ta

06:55 |
Lạy Chúa Giê-su là Ngôi Lời Nhập Thể, là Bánh Hằng Sống, là Hy Lễ dâng lên Chúa Cha vì tội lỗi thế gian và tội lỗi của con.
Xin ban cho con
ơn nhận biết và can đảm tuyên xưng Chúa là Ngôi Lời,
ơn biết rao giảng, loan truyền Chúa là Sự Thật,
ơn biết đi theo con đưòng của Chúa vì chỉ có Chúa là Đường,
ơn biết thắp lên Ánh Sáng Tin Mừng vì Chúa là Ánh Sáng,
ơn biết chết cho mình và sống cho Chúa vì Chúa là Sự Sống,
ơn biết yêu Chúa và yêu thương tha nhân vì Chúa là Tình Yêu,
ơn biết chia sẻ niềm vui với mọi người vì Chúa là Niềm Vui,
ơn biết tận hiến đời con cho Chúa vì Chúa là Của Lễ,
ơn biết trở nên khí cụ trao ban bình an của Chúa vì Chúa là Bình An,
ơn biết khao khát và ơn năng rước Thánh Thể vì Chúa là Bánh Hằng Sống.
(Phỏng theo tư tưởng của Thánh Tê-rê-xa Cal-cut-ta).
Đọc thêm…
Comments
0 Comments

Thư ký báo chí của Đức Gioan Phaolô II nói: phép lạ lớn nhất của ngài là từng ngày trong cuộc sống của ngài

06:52 |


Tác giả: 
 Jos. Tú Nạc, NMS

22 năm ông làm việc sát cánh với Đức Gioan Phaolô II, Như một người bạn thân, ông Joaquin Navarro-Valls, nguyên phát ngôn viên Tòa Thánh, đã chia sẻ những giây phút khó quên với Đức Giáo Hoàng người Ba Lan, nhưng một trong những điều ông nhớ nhất là cách sống hàng ngày của ngài. Ông cho biết:


Ngài có một cảm giác hài hước tuyệt vời. Ngài luôn nói đùa và yêu cầu chúng tôi làm như vậy. Đó là một khía cạnh khác nhau của sự thánh thiện, bởi vì nó dựa vào những sự việc hàng ngày. Khi người ta hỏi tôi, “bạn đã bao giờ nhìn thấy ngài làm phép lạ lần nào chưa? “Tôi nói có. Một phép lạ mà chưa ai đã viết nên một cuốn sách về nó, đó là cuộc sống hàng ngày của Đức Gioan Phaolô II. Cách ngài làm việc, ngài đã vận dụng thời gian của mình như thế nào và cách ngài nói đùa với những người xung quanh như thế nào. Ngài có một cảm giác hài hước lạ thường.”

Là thư ký báo chí của Vatican, ông đã cùng đi với Đức Gioan Phaolô II trong 128 chuyến đi, gồm cả chuyến viếng thăm của ngài tới Cuba, cả hai cùng dự nghi lễ tổ chức Năm Thánh vào năm 2000. Vì vậy, họ là một đội, nhưng trên hết họ là đôi bạn nữa. Trong thực tế, ông Navarro-Valls nói rằng trong chừng mực nào đó ông vẫn cảm thấy gần gũi với Đức Gioan Phaolô II. Ông nói:

“Tôi đã được hỏi, ông có nhớ ngài không? Tôi nói không, không, tôi không nhớ. Mọi người có thể không tin điều đó. Họ nói rằng, ông nói vậy có nghĩa là gì? Ông luôn ở cùng với ngài. Vâng, vâng đó là sự thật. Lúc còn làm việc, chúng tôi phải tiếp xúc với nhau khoảng hai hoặc ba giờ đồng hồ. Nhưng bây giờ, tôi có thể cảm thấy liên kết với ngài 24 giờ một ngày. vì vậy, trong ý nghĩa đó, không, tôi không còn nhớ ngài nữa.”

Điều đó không phải mỗi ngày mà ai đó nhìn thấy ông chủ cũ của mình được công bố là một vị thánh. Vào Chúa nhật 27 Tháng 4, trong buổi lễ phong thánh, ông nói rằng ông biết ông sẽ nói những gì với người bạn của mình, ông chủ cũ và là vị thánh trong tương lai.

“Vào ngày lễ hôm ấy, tôi sẽ nói với ngài: Thưa Đức Gioan Phaolô II: cảm ơn ngài, cảm ơn ngài đã biến cuộc sống của mình thành một kiệt tác cùng với sự giúp đỡ của Thiên Chúa.”

Mặc dù đó sẽ là một ngày lịch sử trong Giáo Hội, ngày ấy tất cả sẽ trở nên đặc biệt hơn đối với những người mà bản thân biết Đức Giáo Hoàng người Ba Lan và những người được chia sẻ ngày của mình đối với cuộc sống hàng ngày với vị thánh trong tương lai này.


Đọc thêm…
Comments
0 Comments

MẸ MARIA DỰ LỄ LẬP NHIỆM TÍCH THÁNH THỂ

08:13 |
Ngày Thứ Năm Thánh, trước khi mặt trời mọc, Chúa Giêsu gọi Mẹ Maria lại và nói:"Mẹ ạ, đây là giờ Con phải thi hành việc Cứu Chuộc thế gian.  Mẹ đã tình nguyện thưa lời Xin Vâng lúc Con Nhập Thể, Con muốn Mẹ cũng thưa lời Xin Vâng ấy lúc này khi Con chịu Tử Nạn.  Xin Mẹ bằng lòng cho Con đi chịu đau khổ và chịu chết cho loài người, và xin Mẹ Đồng Công với lễ hi sinh này để cứu rỗi họ."

Nghe những lời đó, Mẹ Maria cảm thấy tâm hồn dễ cảm của Mẹ vỡ ra dưới áp lực đau khổ mãnh liệt hơn hết Mẹ chưa từng chịu.  Rất sầu thảm, nhưng cũng rất tận tình, Mẹ lại sấp mình xuống trước mặt Chúa Giêsu, hôn chân Người mà nói:  "Con là Chúa và là Thiên Chúa tối cao, Mẹ là tôi tớ của Con, Mẹ xin tuân hợp thánh ý Cha hằng hữu và thánh ý Con, xin Con hãy đoái nhận lời xin của Mẹ kèm với hi sinh đớn đau của Mẹ."
Sau đó Mẹ Maria xin được tham dự Nhiệm tích Thánh Thể Chúa sắp lập.  Ngay từ đó, Mẹ đã dọn mình để hiệp lễ với một lòng khiêm nhượng và một tình yêu tôn kính rất sâu xa.
Tiếp đó, Chúa Giêsu ra lệnh cho các thiên thần phải mặc hình người túc trực hầu Mẹ và an ủi Mẹ khi Mẹ đau khổ.  Rồi Chúa lại thưa với Mẹ:  "Mẹ sẽ theo Con một quãng xa xa lên Giêrusalem cùng các phụ nữ đạo đức đồng hành, Mẹ sẽ nâng đỡ đức tin của họ trong lúc Con chịu Tử Nạn."  Sau đó, Chúa chúc lành cho Mẹ và chào từ biệt.  Niềm đau đớn xé nát Trái Tim hai Mẹ Con lúc ấy vượt trên tất cả những đau đớn mà loài người có thể tưởng nghĩ.  Liền đấy, Chúa Giêsu tạ từ Mẹ, và rời khỏi Bêtania, vào lúc trước giờ trưa một chút, có các Tông đồ đi theo. Đi được mấy bước Chúa ngước mắt lên trời, kêu lên:  "Lạy Cha hằng hữu, vì vâng thánh ý Cha và vì yêu mến Cha, Con sắp sửa chịu đau khổ và chịu chết cho loài người là hình ảnh Cha, để họ được nối lại tình thân nghĩa với Cha, và hết mọi thụ tạo đều tôn vinh danh thánh Cha." Mẹ Đồng Trinh Maria lúc đó cũng đã lên đường, cùng với những phụ nữ và an ủi nâng đỡ họ.
Lúc đến gần Giêrusalem, Chúa ủy thác cho thánh Phêrô và Thánh Gioan đi trước để chuẩn bị tiệc Chiên Vượt Qua.  Theo dấu hiệu Người chỉ trước, hai ông đã chu toàn sứ mệnh trong nhà một nhân vật rất giầu sang và tận tình với Chúa Giêsu.  Ông hoan hỉ dâng cho hai Tông đồ một ngôi nhà có phòng rộng lớn, trang hoàng lộng lẫy sẵn sàng, rất hợp cho việc tôn lập nhiệm tích Thánh Thể và những mầu nhiệm trọng đại sắp diễn ra.
Chúa Giêsu tới nơi được một lúc Mẹ Maria cũng đến.  Mẹ liền sấp mình xuống dưới chân Chúa, cầu phép lành và xin Chúa cho biết mình phải làm gì.  Theo lời Chúa, Mẹ và đoàn phụ nữ theo Mẹ rời sang một phòng bên cạnh, nơi đây, Mẹ tham dự được tất cả những việc xẩy ra trong đêm kỷ niệm ấy.
Chúa Giêsu vào căn phòng đã dành sẵn cho Chúa.  Người nói với các tông đồ rằng:  bữa ăn tối hôm nay sẽ chấm dứt những nghi lễ tượng trưng trong Luật Cũ, vì hôm nay thực tại được thể hiện.  Trong thâm tâm, Người cảm tạ Cha hằng hữu về thực tại đó, rồi vào dự bữa tiệc chiên Vượt Qua cuối cùng đời Người.
Cuối tiệc, Người cởi áo choàng ra, áo mà Mẹ Maria may cho Người mặc bên ngoài áo không có đường chỉ.  Người lấy một chiếc khăn vải thắt lưng, lấy nước đổ vào chậu, và rửa chân các các Tông đồ như Phúc Âm đã thuật lại.
Khi Phêrô từ chối không để Chúa rửa chân, Chúa Giêsu phải nghiêm nghị dùng đến lý mạnh:  "Nếu con không để Thầy rửa cho, con sẽ không được dự gì với Thầy!", nghĩa là không được dự vào nhiệm tích Thánh Thể và ơn Cứu Chuộc.  Với lời đe dọa đó, Chúa đã thiết lập nền tảng vững chắc cho đức tuân phục.  Khi nào không thấy rõ ràng bề trên lầm, vẫn phải nhắm mắt tuân phục, chứ không được tìm lý sự để không tuân.
Với Giuđa,  Chúa rất thương xót, không những xử với hắn y như với các tông đồ khác, mà còn  tỏ ra những bằng chứng yêu thương đặc biệt.  Người đến với hắn với một thái độ yêu thương, quì xuống rửa chân hắn, hôn lên và áp lên ngực một cách rất âu yếm.  Đồng thời, Người dội vào linh hồn hắn những ơn soi sáng và ân sủng thích hợp để hắn trở lại.  Nhưng tên khốn nạn đó ruồng rẫy tất cả, vì lẽ hắn đã giao ước với đảng Biệt phái để nộp Thầy mình cho họ, và vì ma quỉ đã chỗm chệ trong tâm hồn nham hiểm của hắn rồi.  Từ vực thẳm của lương tâm hắn, nổi lên một trận bão táp mạnh mẽ, cay đắng và căm hờn,  Hắn không dám nhìn lên mặt Chúa Giêsu nữa.
Sau khi đã làm xong những nghi thức chuẩn bị, Chúa Giêsu lại mặc áo choàng vào và lại ngồi vào bàn.  Trong lúc thánh Gioan dựa đầu lên ngực Chúa, Chúa đã dậy ông những điều tuyệt cao về Ngôi Vị rất thánh của Chúa và về Mẹ Maria. Chính lúc đó, Chúa đã trối Mẹ làm Mẹ ông. Ở trên Thánh Giá, Chúa chỉ công khai tuyên bố một việc đã quyết định trước rồi.  Cho nên Người mới nói:  "Mẹ của con đây!"  Tất cả các Tông đồ lúc ấy cũng đều lĩnh nhận được những ánh sáng mới về các mầu nhiệm trọng đại, những ánh sáng ấy chuẩn bị các ông kỹ càng hơn để rước lĩnh Thánh Thể.

Để lập nhiệm tích này, Chúa Giêsu đã cho dọn một chiếc bàn tương tự như những chiểc bàn ngày nay ta dùng.  Ông chủ nhà trải lên một tấm khăn rất quí, đặt thêm một chén lớn có hình nụ hoa. Đĩa và chén đắt giá ấy làm bằng một thứ đá quí giống như ngọc bích.  Về sau, các Tông đồ vẫn dùng để cử hành Thánh Lễ.
Khi tất cả đã sẵn sàng, Chúa Giêsu nói với các Tông đồ một bài dài đầy những ý thâm trầm kỳ diệu về Thần Tính Người, về Nhân Tính Người, về ơn Cứu Chuộc, cũng như về sự cao trọng, về chức vị tuyệt vời và đặc ân của Mẹ Maria.
Sau khi Chúa nói xong huấn từ rất cảm kích đó, các thiên thần đưa hai ông Hênóc và ông Elia đến, để hai vị tổ phụ của luật tự nhiên và luật thành văn ấy được tham dự vào nhiệm tích Thánh Thể.  Sau cùng, cả Ngôi Cha và Ngôi Thánh Thần xuất hiện với toàn thể triều đình thiên quốc.  Hết các Tông đồ đều cảm thấy sự xuất hiện này, nhưng chỉ có một vài vị nhìn thấy, đặc biệt là thánh Gioan.  Bộ Luật ân sủng và Giáo Hội Tân Ước đã được thành lập trong vẻ lộng lẫy cực kỳ huy hoàng ấy.
Lúc đó, Chúa Giêsu thầm nguyện trong tâm hồn một lời nguyện cầu cùng Cha hằng hữu xin cho loài người được cứu rỗi, và xin Cha chấp thuận cho Người lập các nhiệm tích, để ban cho mọi người những nhu cầu thiêng liêng.  Chỉ một mình Mẹ Maria là được biết lời nguyện này;  Mẹ hợp lòng với lời nguyện ấy với tư cách là Mẹ, là Đấng Đồng Công của Chúa Cứu Thế.  Tên quỉ Luxiphe vác mặt đến đó, với manh tâm là đem thói hiểm độc của hắn chống lại với những ân sủng sắp sửa được ban xuống đầy tràn.  Nhưng Đức Nữ Vương vũ trụ chiếu quyền Chúa Giêsu ban cho mình, ra lệnh cho con rồng dữ đó và chư hầu của nó phải nhào xuống hang hố hỏa ngục lập tức.  Chúng cứ phải ở đó cho đến lúc chúng được phép ra để dự khán cuộc Tử Nạn của Chúa.
Lúc đó, Chúa Giêsu xướng một ca vịnh khác tôn vinh Cha Người, và cảm tạ Cha Người vì đã ưng nhận lời Người cầu xin cho loài người.  Rồi Người cầm bánh đặt trong đĩa lên, ngước mắt nhìn trời, nhìn Cha hằng hữu và Thánh Linh, với một phong thái uy nghi đến nỗi các Tông đồ, các thiên thần và cả Mẹ Maria đều ngợp một niềm kính sợ mới.  Sau cùng, Chúa đọc lời hiến thánh hai hình bánh rượu.
Chúa vừa đọc xong, Cha hằng hữu đáp lời:  "Đây là Con chí ái Ta, Ta thỏa nguyện nơi Người, và Ta sẽ thỏa nguyện nơi Người cho đến tận thế.  Người sẽ ở lại với loài người suốt thời gian lưu đầy của họ nơi trần gian."  Chúa Thánh Linh cũng xác nhận lời hứa ấy.  Và Nhân Tính rất thánh của Chúa Giêsu cúi sâu trước Thần Tính hiện diện trong nhiệm tích.  Mẹ Maria khiêm nhượng sấp mình xuống, các thiên thần hầu cận Mẹ, cũng như tất cả những người khác:  Hênoc, Elia, các Tông đồ, đều thờ lạy Thánh Thể, chỉ trừ có tên Giuđa là kẻ không tin.  Chúa Giêsu lại dâng cao Mình cùng Máu đã hiến thánh của Người lên để mọi người tham dự Thánh Lễ đầu tiên ấy thờ lạy một lần nữa.
Sau khi dâng cao Thánh Thể, Chúa Giêsu bẻ lấy một phần, rồi tự mình rước lấy với tư cách là Linh Mục tối cao và đầu tiên, rồi với tư cách là Con Người, Người nhìn nhận mình ở dưới Thần Tính mà Người lĩnh nhận, Người hạ mình trước Thần Tính ấy.  Lúc đó, Linh Hồn vinh hiển của Người giãi sáng ra nơi Thân Xác Người một lúc như trên núi Tabôrê.  Nhưng chỉ có Mẹ Maria là nhận thấy như thế thôi.
Trong khi hiệp lễ, Chúa Giêsu đọc một bài ca tán tụng Cha hằng hữu, dâng mình cứu rỗi loài người.  Rồi Người bẻ một phần bánh thánh hiến, trao cho Đức Tổng Thần Gabrie, để Tổng Thần đem đến cho Mẹ Maria.  Mẹ đợi chờ, hai mắt đẫm lệ, khi Đức Tổng Thần đến với một đạo binh đông đảo thiên thần khác.  Mẹ chịu lấy Thánh Thể từ tay Đức Tổng Thần.  Mẹ là người thứ nhất hiệp lễ sau Chúa Giêsu.  Mô phỏng Chúa Giêsu, Mẹ hạ mình rất khiêm nhượng tạ ơn Chúa.  Thánh Thể được đặt vào Trái Tim Mẹ, như vào trong Nhà Tạm xứng đáng nhất của Thiên Chúa, và cứ còn nguyên vẹn mãi ở đó cho tới khi Mẹ hiệp lễ lần sau.
Sau khi Đức Nữ Vương các thánh đã lãnh nhận Thánh Thể rồi, Chúa Giêsu lại trao bánh thánh hiến cho các Tông đồ, truyền cho các ông chia nhau mà ăn.  Bằng lệnh truyền đó, Người đã lập chức linh mục.
Chỉ có một mình Giuđa khốn nạn, không những không tin, không yêu mến, mà còn oán giận, y vẫn cứ là tên bội phản bỉ ổi nhất.  Khi y nghe Chúa Giêsu ra lệnh cho các Tông đồ hiệp lễ, y có mamh tâm giữ bánh Thánh Thể lại, nếu có thể, và đem đến nộp cho các vị thượng tế, làm bằng chứng cho họ lên án Thầy mình vì đã quả quyết bánh đó là chính mình Người.  Nếu không thể xúc phạm được như thế, y nhất quyết tìm cách khác để mưu hại đến phép Thánh Thể.
Được một thị kiến rõ ràng, Mẹ Maria quan sát tất cả sự việc xảy ra.  Mẹ thấy rõ ý đồ gớm ghiếc của Giuđa.  Bừng cháy nhiệt tâm tôn kính Thiên Chúa, tôn kính Con Chí Thánh mình, trong nhiệm tích Thánh Thể, và thấy rõ ý Người muốn Mẹ dùng quyền làm Mẹ, làm Nữ Vương trong hoàn cảnh này, Mẹ truyền cho các thiên thần lấy lại bánh và rượu khỏi Giuđa và đặt vào phần còn lại trên bàn.  Các thiên thần vâng lệnh Mẹ.  Khi con người khốn nạn nhất loài người đó cả gan hiệp lễ, các thiên thần lấy hình bánh hình rượu từ miệng hắn ra, thanh tẩy sự tiếp xúc phạm thánh ấy, rồi đặt chúng với  các phần khác.  Việc ấy thực hiện trong vô hình, nên không ai nhìn thấy ngoài Chúa Giêsu và Mẹ Maria.  Thật là cho đến giây phút cuối cùng, Chúa Giêsu còn muốn bảo vệ thanh danh cho kẻ tử thù của Người!  Các Tông đồ hiệp lễ theo thứ tự trước sau tại chỗ mình.

Lời Mẹ nhắn nhủ:
Nhờ Thánh Thể, người Công giáo có Đấng Cứu Chuộc chí thánh ở giữa họ:  họ có thể thăm viếng và rước lĩnh.  Đã được Chúa rồi, họ không còn khát khao gì, không còn phải sợ hãi gì trong cuộc lưu đầy của họ ở đời này nữa.  Chúa đã lập nhiệm tích khôn tả này làm phương dược chữa lành bệnh tật họ, nâng đỡ họ khi yếu đuối, làm kho tàng cho họ khi khốn cùng, an ủi họ khi đau khổ, cho họ chiến thắng khi bị cám dỗ, và nên sự sống, nguồn vui và ơn cứu rỗi họ.  Thánh Thể là nguồn mạch muôn ơn của tín hữu, mà họ không chạy đến với Thánh Thể khi ngặt nghèo, đó là họ phạm một lỗi lầm lớn nhất.
Thế nên, ma quỉ ra sức làm họ lìa xa Thánh Thể.  Mặc dầu chúng bị cực khổ trước Thánh Thể, chúng cũng cứ vào các Nhà Thờ để xui giục người ta bất kính với Thánh Thể và phạm những tội khác nữa, vì chúng hiểu sự sỉ nhục người ta làm cho Chúa uy nghi ở đó là sỉ nhục rất nặng nề.
Nhưng những người đã được nuôi dưỡng bằng Bánh Thánh  này một cách vừa sốt sắng vừa thanh sạch, giữ mình mãi như thế từ lần hiệp lễ này đến lần hiệp lễ nọ, có năng lực chống lại ma quỉ mạnh mẽ biết bao!  Ở trên trời, họ sẽ nên rực rỡ sáng như mặt trời.  Ngoài ra, thân xác vinh quang của họ còn mang trên ngực những biểu chương rạng ngời nói lên rằng trái tim họ đã từng là nhà tạm xứng đáng chứa Thánh Thể.
Cần phải chuẩn bị hợp lẽ để hiệp lễ biết bao! Mẹ đã cẩn thận dọn mình chừng nào để rước Thánh Thể và cảm tạ Chúa vì ơn vô giá này.

Đọc thêm…
Comments
0 Comments

TỪ NÚI TABÔRÊ ĐẾN LỄ LÁ

08:06 |

Đã hơn hai năm rưỡi rồi, Chúa Giêsu thi hành sứ mạng của Người, bằng lời giảng dậy và bằng phép lạ.  Nay đã gần tới thời giờ Người phải nộp mình chịu chết và trở về với Cha Người.  Người quyết định cho các tông đồ được nhìn thấy Thân Xác Người biến hình vinh quang trước khi bị bọn đao phủ làm mất dạng, để niềm tin của các vị không bị lung lay khi thấy Thầy mình tử nạn.  Cuộc biến hình vinh quang này xảy ra tại núi Tabôrê, cách Nagiarét  hai dặm, y như Phúc Âm đã thuật lại.  Gương mặt Chúa giãi sáng như mặt trời, y phục Người trắng hơn tuyết, tỏa sáng rực rỡ.

Nhưng có một điều Phúc Âm không nói đến là:  lúc một vài thiên thần đi tìm ông Maisen và ông Êlia để làm chứng nhân cho cuộc hiển vinh đó, các thiên thần cũng đi rước Mẹ Maria  lên núi Tabôrê.  Chúa Giêsu yêu mến Mẹ Người lắm, không thể để Mẹ không được dự vào cuộc biến hình này, một cuộc biến hình không những xứng với vẻ cao trọng khôn tả của Mẹ, mà còn xứng với Mẹ đồng công vào cuộc Tử Nạn Cứu Chuộc của Chúa.  Mẹ vượt trên các chứng nhân của cuộc biến hình về cao trọng và công nghiệp, Mẹ cũng vượt cao trên họ về cách nhận thức mầu nhiệm này.  Không những Mẹ nhìn thấy Nhân Tính biến hình của Chúa Giêsu Kitô, mà Mẹ còn nhìn thấy cả Thần Tính của Người, trong suốt cuộc biến hình lạ lùng ấy nữa.  Mẹ nhìn mà không sợ hãi như các tông đồ, nhưng với một lòng thán phục bình thản và khoái thú. Khi ra khỏi cuộc chiêm ngắm này, Mẹ hoàn toàn bừng cháy tình yêu, hoàn toàn nên như Thiên Chúa, và Mẹ vẫn duy trì y nguyên hình ảnh sống động của quang cảnh đó suốt những ngày còn lại của Mẹ ở đời này.
Sau cuộc Chúa biến hình, Mẹ lại được rước về nhà Nagiarét.  Nơi đây, Chúa Giêsu đến gặp lại Mẹ ngay, nhưng Chúa ở lại nhà ít thời gian thôi, vì lễ Vượt Qua đã gần đến.  Trước khi từ biệt ngôi nhà đáng tôn kính này lần cuối cùng, Chúa cảm tạ Chúa Cha đã ban hữu thể nhân loại cho Người, và dâng lại cho Thiên Chúa để cứu rỗi loài người.  Người thưa lên:  "Con hân hoan sắp làm thỏa nguyện phép công bình của Cha, và hòa giải con cháu Adong với Cha.  Con sắp sửa đi dựng cờ Thánh Giá, để những ai yêu mến nhân đức sẽ chiến đấu dưới bóng cờ này."
Mẹ Maria nhìn thấy trong Linh Hồn Chúa Giêsu, như trong một tấm gương, tất cả tâm tình của Chúa, và đem hết tâm hồn hợp nhất với những tâm tình ấy.
Mẹ cũng nối tiếp thưa lên với Thiên Chúa rằng: "Lạy Thiên Chúa toàn năng, con cảm tạ Chúa vì ngay ở đời này, Chúa đã nâng con lên tới chức làm Mẹ của Con Chúa, đã ban tràn ngập cho con nhiều ân sủng khi con được cùng sống với Ngài, trong suốt 30 năm. Con sắp đi tham dự vào lễ hi sinh mạng sống của Ngài. Ước chi một mình con được chịu tất cả những đau khổ đang chờ đón Ngài." Dâng kinh nguyện ấy xong, Mẹ và Chúa cùng nói với nhau nhiều chuyện. Trong cuộc chuyện vãn này , đau khổ và hứng vui đã pha lẫn với những lời Mẹ than vãn rất thiết tha, vì Mẹ không thể ngăn cản được cuộc Tử Nạn của Chúa, và không được chết cùng với Chúa.
Mang đầy những tâm tình đó, Chúa và Mẹ rời Nagiarét để đi Giêrusalem. Hồi này, Chúa Giêsu đã làm nhiều phép lạ lẫy lừng hơn nhữg phép lạ đã làm trước, khi đi qua xứ Giuđêa. Mẹ Maria đôi khi mới rời xa Chúa để làm một vài công việc đặc biệt, nhưng lúc đó lại có ông Gioan ở liền bên Mẹ, thấu hiểu được những mầu nhiệm cao cả giấu ẩn trong Trái Tim Mẹ.

Trong những ngày sau cùng của Chúa, noi gương Chúa, Mẹ ban nhiều ân huệ cho loài người: cải hóa các tội nhân, cho lành các bệnh nhân, cứu trợ những người  nghèo khó và đau khổ. Nhưng vì luôn bừng cháy một tình yêu cực lực đối với Con của Mẹ, nên Mẹ cảm thấy một nỗi đau buồn buốt nhói vì phải xa cách mặt Ngài, và một khát vọng nóng bỏng được gặp lại Chúa, đến nỗi khi Chúa chậm trở về với Mẹ hơn thường, Mẹ đã bị ngất xỉu.
Về phía Chúa Giêsu, Chúa cũng thỏa nguyện với những tâm tình của Mẹ,  nên Chúa không thể xa lìa Mẹ lâu được. Ngoài ra, trong linh hồn vô nhiễm mĩ lệ và rạng ngời của Mẹ, Chúa còn tìm được một xoa dịu rất quí báu cho những đau khổ Ngài chịu trong Thân Xác .

Xức dầu tại Betania:
Chính vào thời gian này, Chúa Giêsu phục sinh cho Lazarô tại Bêtania, nơi Chúa dừng lại sáu ngày trước lễ Vượt Qua. Trong bữa tiệc dọn đãi Chúa, Maria Madalena đã chứng tỏ lòng quảng đại tôn kính Ngài theo cách của bà sáng nghĩ. Bà tưới trên chân Chúa một thứ hương thơm cao giá rồi lấy tóc mà lau. Bà lại đập vỡ luôn cả chiếc bình bằng bạch ngọc đựng hương thơm ấy mà đổ hết những giọt cuối cùng trên đầu Đấng Thương Xót cứu chuộc bà, như bà đã làm khi mới trở lại.

Giuđa bần tiện, quyết hại Chúa Giêsu,
Mẹ Maria khuyên nhưng hắn cứng lòng:
Tên Giuđa tham lam lớn tiếng chỉ trích bà: "Làm gì mà phung phí thế kia? Khi Chúa biện hộ cho bà. Y chỉ trích luôn cả Chúa.  Lòng đầy hờn giận và căm phẫn, y quyết tâm tìm cách hại cả mạng Thầy chí thánh mình.  

Rất buồn khổ vì tội ác quái gở đó, Mẹ Maria, ngay trong đêm ấy, đã gọi tên tội lỗi khốn nạn đó, dùng những lời hết sức cảm động và vừa khóc vừa tỏ cho ý biết ý định ghê gớm của y, nài xin y hãy báo thù chính Mẹ, nếu y còn cố chấp gan lì trong mối hờn giận Chúa Giêsu.  Mẹ lại đem tặng y nhiều tặng vật mà Mẹ nhận được của Mađalêna biếu Mẹ, với chủ ý ấy.  Nhưng y không hề mềm lòng trước lòng nhân từ bao la của Mẹ, y sắt đá thêm ra, và thâm hiểm lặng im để chứng tỏ mối căm phẫn câm nín của y.  Chưa thất vọng, Mẹ đầy tình thương còn đi tìm gặp Chúa Giêsu, vừa sấp mình xuống dưới chân Chúa vừa chan hòa nước mắt, Mẹ đem hết tình cảm thương nói với Chúa, làm cho Chúa cảm nghiệm được một an ủi rõ ràng trong nỗi buồn chí tử mà ác tâm sâu sắc của Giuđa đã gây ra cho Chúa.

Sau đó, theo thói quen, Mẹ ở lại với Chúa trong phòng nguyện, bắt chước Chúa cầu xin.  Chúa sấp mình trước uy nhan Cha Người, và một lần nữa, với một tâm hồn nhẫn nhục tuyệt cao, chấp nhận chịu đau khổ và nhục nhã trong cuộc tử nạn để tôn vinh Cha Người và cứu rỗi nhân loại.  Mẹ Maria cũng khóc với Chúa và Mẹ hợp nhất với lễ hi sinh Người dâng.  Lễ dâng gấp đôi ấy rất đẹp lòng Cha hằng hữu...

Buổi sáng Chúa Nhật Lễ Lá, Chúa Giêsu lên đường về Giêrusalem, có rất đông thiên thần tháp tùng ca ngợi tình thương của Người đối với nhân loại.  Các thánh ký đã thuật lai cuộc đón tiếp tưng bừng mà  mọi người say sưa hoan hô Chúa. 
Tại Bêtania, nơi Mẹ lưu ngụ, Mẹ nhìn thấy tất cả quang cảnh tưng bừng ấy. Chúa Cha sai Đức Tổng Thần Micae đem tin đó xuống u ngục.  Tại đây, các thánh được thấy tất cả những gì diễn biến tại Giêrusalem, các Người hát lên nhiều ca vịnh mừng Chúa Cứu Chuộc chiến thắng tội lỗi, sự chết và hỏa ngục.  Ngoài ra, tất cả những người đã biết Chúa Giêsu bất cứ cách nào, không những ở Palestina, mà cả ở Aicập hay các nơi khác, đều được Thiên Chúa ban cho một ánh sáng, làm họ hân hoan và tăng thêm niềm tin và nhân đức của họ.  Chúa cũng không để cho ngày vui đó phải nhuốm mầu tối tăm cái chết:  không một ai chết trong ngày đó.   Trong thời gian này, ma quỉ bị xô xuống vực sâu hỏa ngục hết.

Quỷ lo sợ và hiện hình bảo Giuđa thôi ý định nộp Thầy, nhưng hắn không nghe:
Suốt trong hai ngày, chúng cuống lên vì xấu hổ và điên cuồng trong hỏa ngục.  Luxiphe tiết lộ cho lũ quỉ biết y sợ rằng con người khải hoàn dị thường vào Giêrusalem là Đấng  Cứu Thế.  Y nói:  nếu đúng thế đừng thúc giục bọn Do thái giết Người, như đã xui giục trước nữa, trái lại phải ngăn cản, vì cái chết của Người sẽ tiêu diệt nhà nước nó và cứu rỗi thế gian.  Sau quyết định đó, Satan đã hiện thành người đến bảo Giuđa thôi ý định tội lỗi của y, hắn tặng cho y tất cả vàng bạc y muốn.  Nhưng tên phản phúc bỉ ổi nhất đó, vì mất ân sủng rồi, nên cứ lì lợm với quyết định của y.   Hỏa ngục cũng thổi cho mấy ông biệt phái ý tưởng đừng giết Chúa Giêsu trước lễ Vượt Qua, với hi vọng ngăn cản được về sau.  Quỉ lại mớm cho phu nhân của trấn phủ Philatô những áy náy về số phận của Chúa, và cho cả nhà cai trị yếu bóng vía đó chống lại cuộc lên án mà ông ta thấy rõ là bất công oan uổng.

Lời Mẹ Nhắn nhủ:
Ham chịu đau khổ xỉ nhục hơn ham được danh tiếng khen lao ở đời:
Hỡi con, con phải hết sức yêu thích chịu đau khổ, sao cho đối với con, đau khổ lớn hơn hết là không được đau khổ, vì Chúa chỉ làm ta đau khổ để ban ơn trợ giúp xuống cho ta hân hoan.  Trong cuộc Chúa biến hình, sau khi tự hạ trước nhan Cha hằng hữu, Chúa đã dâng lên Cha kinh nguỵện thế này:  "Xin Cha ban cho thân xác người nào chịu đau khổ vì yêu mến Con, được thông phần vào vinh quang của Thân Xác Con cân xứng với công nghiệp họ lập."
Được thế gian giả dối hoan hô, chẳng có gì quan trọng cả.  Chỉ có một mình Thiên Chúa mới thực sự tôn vinh những ai đáng tôn vinh.
Vì thế, Con chí thành Mẹ mới có cuộc khải hoàn vào Giêrusalem với mục đích là làm sáng tỏ quyền năng Thiên Chúa, làm cho cuộc Tử Nạn Người chịu thêm nhục nhã, và dậy cho loài người biết là họ không được hưởng
vinh dự ở đời này vì họ, mà vì một mục đích cao cả hơn họ phải qui hướng những vinh dự ấý về, đó là
vinh quang Đấng Tối Cao.

Mẹ thấy con ước ao biết tại sao Mẹ lại không đi với Chúa  trong cuộc khải hoàn đó, nên Mẹ trả lời cho thỏa ý con.
Trước khi rời bỏ Bêtania, Ngài đã cho Mẹ được chọn, nên Mẹ xin Ngài để Mẹ lại Bêtanta, nhưng khi nào Ngài đi
chịu nạn chịu chết xin cho Mẹ đi cùng: Mẹ tin rằng nếu Mẹ dâng mình đồng công với Ngài trong những sự nhục nhã Ngài chịu trong cuộc Tử Nạn, làm vui lòng Ngài hơn là chia sẻ với Ngài về những vinh quang trong cuộc khải hoàn ấy.
Rất có thể là cuộc khải hoàn ấy cũng cho Mẹ được một phần, vì Mẹ là Mẹ Ngài, nhưng Mẹ chẳng muốn chút vinh
dự nào về cho mình. Mặt khác, Mẹ chẳng tham dự chút nào vào Thần Tính Thiên Chúa, mà mọi vinh dự đều phải 
qui về; và những vinh dự Mẹ có thể nhận được, lại rất có thể chẳng thêm gì cho vinh quang của Ngài cả.


Đó là một bài học đặc biệt gợi cho con biết chán ghét vinh dự trần gian, những vinh dự tựu trung chỉ là hư ảo gồm hết mọi hư ảo, và chi làm cho tâm trí thêm phiền muộn.
Đọc thêm…
Comments
0 Comments

Bé Hát Bài Thương Khó Thật Hay

23:21 |
Đọc thêm…
Comments
0 Comments

Bảy Di Ngôn Trên Thánh Giá

23:20 |

4/7/2012 10:58:37 AMCó hai sứ điệp nổi bật nhất của Chúa Cứu Thế được gởi đến cho loài người.Sứ điệp đầu tiên là Tám Mối Phúc Thật được Chúa công bố trên một sườn núi. Sứ điệp cuối cùng là Bảy Di Ngôn trên Thánh Giá.
Jesus-Crucified.jpg  
Tuần Thánh, chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa, dừng lại nơi Bảy Di Ngôn của Đấng Cứu Thế để nhận thấy Calvê là ngọn núi đầy hấp dẫn, lôi cuốn chúng ta hưởng nếm tình yêu hiến dâng phục vụ. 
1. (33) Khi đến nơi gọi là "Ðồi Sọ", họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. (34) Bấy giờ Ðức Giêsu cầu nguyện rằng: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm". Rồi họ bắt thăm mà chia nhau áo của Người.” (Lc 23,33-34)
2. (42) Rồi anh ta thưa với Ðức Giêsu: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!" (43) Và Người nói với anh ta: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng". (Lc 23,42-43).

3. (33) Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín.(34) Vào giờ thứ chín, Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: 
"Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!" Nghĩa là: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?"(Mc 15, 33-34).

4. (44) Bấy giờ đã gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. (45) Mặt trời tối đi. Bức màn trướng trong Ðền Thờ bị xé ngay chính giữa. (46) Ðức Giêsu kêu lớn tiếng
: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. Nói xong, Người tắt thở.” (Lc 22, 44-46).
5. (25) Ðứng gần thập giá Ðức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của bà thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. (26) Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Ðức Giêsu nói với thân mẫu rằng: "Thưa Bà, đây là con của Bà". (27) Rồi Người nói với môn đệ: "Ðây là mẹ của anh". Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình. (Ga 19, 25-27).

6. (28) Sau đó, Ðức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói
: "Tôi khát!"(Ga 19,28).
7. (29) Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. (30) Nhắp xong, Ðức Giêsu nói: "Thế là đã hoàn tất!" Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” (Ga 19, 29-30)

1. Lạy Cha, xin tha thứ cho họ vì họ chẳng hiểu biết việc họ làm (Lc 23,34)
Lẽ thường, vào giờ hấp hối, tự đáy lòng con người bộc lộ những lời tha thiết với người thân yêu, người lân cận. Lời đầu tiên của Chúa là xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ bách hại, kết án, lăng nhục, đóng đinh Ngài.

Triết gia Xê-nê-ca kể lại rằng, người bị treo trên thập giá trù ẻo cha mẹ,nguyền rủa ngày sinh tháng đẻ,mắng nhiếc lý hình,thậm chí còn khạc nhổ vào bất cứ ai qua lại đứng ngồi dưới chân cây thập giá.

Nhà hùng biện Si-sê-rô còn cho biết rằng, đôi khi phải cắt lưỡi người bị đóng đinh vào thập giá, để họ thôi buông lời phạm thượng. Bởi thế, dân chúng bồn chồn. Đám lý hình,luật sĩ,biệt phái chờ đợi tiếng la thét,mắng nhiếc,nguyền rủa của người bị đóng đinh đang hấp hối. Nhưng,cũng như loại hương mộc tiết hương thơm ra cho cả chiếc rìu hạ chúng,Thánh Tâm trên cây Tình Thương tự đáy lòng đã thoát toả ra một lời nguyện thầm thỉ đầy êm ái về sự dung thứ và xá tội “Lạy Cha xin tha thứ cho họ vì họ chẳng hiểu biết việc họ làm”.

Tha thứ,vì họ không biết. Giả mà họ biết tội họ phạm kinh tởm đến đâu khi lên án chết cho Đấng ban sự sống;giả mà họ biết rằng họ đang đổ máu Đức Giêsu dùng để cứu chuộc họ,giả mà họ biết như thế thì đời nào họ lại được tha ?

Giả mà ta biết tội lỗi khủng khiếp dường nào mà cứ phạm tội;giả mà ta biết Chúa yêu ta đến nổi Nhập Thể Làm Người mà ta vẫn khước từ không chịu đón nhận và tin yêu; giả mà ta thấu hiểu tình yêu tha thứ trong Bí Tích Giải Tội thật là vô biên mà không chịu xưng tội; giả mà ta biết Bí Tích Thánh Thể hàm chứa một sức sống vô song mà cứ khước từ không chịu ăn Mình Thánh và uống Máu Thánh. Giả mà ta biết rõ những điều ấy,ta sẽ bị hư mất.Ta không thấu hiểu lòng lành Thiên Chúa,đó là lý lẽ độc nhất rộng thứ cái tội chưa chịu làm thánh của ta.

Chúa không chấp nhất,nhưng lại tha thứ,thì ta cũng phải tha thứ cho nhau.( x Mt 6,12;6,15;18,23-35).

2. Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng(Lc 23,43)

Kẻ tử tội bị đóng đinh bên hữu ngoảnh đầu nhìn sang đọc được tấm bảng: Giêsu Nazareth,Vua dân Do thái.Trong tâm hồn người đạo chích này dậy lên những tâm tình nồng nàn. Một tia sáng từ Thập giá chiếu ra làm rực sáng đức tin của anh nên anh đã dâng lời khẩn cầu: Xin Ngài nhớ đến con khi Ngài về nơi vương quốc. Chính lúc tử thần rình rập bên cạnh,chỉ có một người nhìn biết Chúa Kitô là minh chủ một vương quốc. Chúa đã cứu chữa anh khi phán: Hôm nay, con sẽ ở trên thiên đàng cùng với Ta.
Trước đó đã chẳng có ai được hứa ban như vậy, cho dù là Môisen hay Gioan, Mađalêna hay cả Đức Maria.

Người đạo chích đã gõ cửa, đã cầu xin chỉ có một lần, anh đã dám làm tất cả nên đã được tất cả. Liệu có thể nói được rằng: Người trộm này đến chết vẫn còn hành nghề đạo chích, vì đến lúc chết, còn ăn trộm được thiên đường ?

Lòng từ ái của Chúa đối với người trộm gợi nhớ lời sấm ngôn: Tội lỗi con có thắm như hồng điều, cũng sẽ nên trắng sạch như tuyết, có thẫm như vải đỏ, cũng sẽ mịn mướt như lông chiên.

Ơn dung thứ Chúa ban cho người trộm thống hối càng làm chúng ta hiểu hơn lời Chúa phán:” Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi kẻ tội lỗi …không phải người mạnh khoẻ nhưng người bệnh tật mới cần đến lang y …một người tội lỗi thống hối làm cho cả thiên đường vui mừng hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải thống hối.”.

Người trộm biết sám hối ăn năn tiêu biểu cho thế giới dân ngoại tin và tuyên xưng Đức Giêsu là Vua. Miễn là con người biết sám hối,Thiên Chúa luôn bao dung và từ ái.

3 . Thưa Bà,đây là con Bà (Ga 19,26)

Những lời Sứ thần Gabriel nói tại Nazareth :”Kính chào Bà đầy ân phúc” ( Lc 1,28) cũng soi sáng cho khung cảnh Calvê. Biến cố Truyền tin báo hiệu một khởi đầu,Thánh giá đánh giá một kết thúc.Trong cảnh Truyền tin, Mẹ Maria trao ban bản tính loài người cho Con Thiên Chúa trong cung lòng Mẹ; dưới chân Thánh giá,nơi Thánh Gioan,Mẹ đón nhận toàn thể nhân loại vào tâm hồn Mẹ. Là Mẹ Thiên Chúa ngay từ lúc đầu tiên của biến cố nhập thể, Mẹ đã trở thành mẹ của loài người trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu, con Mẹ. Dưới chân Thánh giá, Mẹ đón nhận từ Chúa Giêsu như một lời truyền tin thứ hai : “Hỡi Bà này là con Bà” ( Ga 19,26).

Lời truyền tin thứ nhất do Sứ thần đem đến, lần truyền tin thứ hai lại do chính Chúa phán ra. Lời truyền tin thứ hai long trọng, Đức Giêsu, Ngôi Lời truyền tin cho Mẹ mình, công bố vai trò vai trò Đức Maria là Mẹ Nhân Loại, Mẹ Giáo Hội.

Ở gốc cây biết lành biết dữ, Evà đã mất chức làm mẹ loài người

Ở dưới chân Thánh giá, Đức Mẹ đón nhận chức vị làm Mẹ loài người.

Đức Maria là mẹ Thiên ân vì là mẹ của Tác giả ơn thánh.Các con hãy hoàn toàn tín nhiệm phó thác cho Mẹ ! Hãy chiếu toả rạng ngời vẻ đẹp của Chúa Kitô khi cởi mở đón nhận hơi thở của Thánh Linh.

4 .Lạy Thiên Chúa! lạy Thiên Chúa của con ! sao Ngài bỏ rơi con ( Mt 27,46)

Ba Lời Di Ngôn đầu từ thánh giá phán ra được gởi đến các kẻ được Thiên Chúa yêu thương theo thứ tự : kẻ thù địch, kẻ tội lỗi, người lành thánh. Hai lời thứ tư, thứ năm biểu lộ sự đau khổ của Thiên Chúa làm người trên thánh giá. Lời thứ tư biểu lộ sự khốn khổ của con người bị Thiên Chúa phế bỏ. Lời thứ năm nói lên nổi cay cực của Thiên Chúa bị con người chối bỏ.

Ngày Thứ Sáu Chịu Nạn là ngày đen tối nhất trần gian.Bóng tối bao trùm trái đất in mờ Thập Giá Đức Kitô trên nền trời đen thẳm.Mọi sự đều tối tăm mịt mùng! Ngài từ bỏ Mẹ hiền và môn đệ yêu dấu. Thiên Chúa xem ra cũng như từ bỏ Ngài luôn. ”Eli ! Eli ! Lamma sabacthani ! Chúa ơi ! Chúa ơi ! sao Chúa bỏ con ? ! Tiếng kêu than này, trong ngôn ngữ huyền nghĩa Do thái tiết diễn một mầu nhiệm kinh khủng về sự kiện : Thiên Chúa từ bỏ Thiên Chúa. Chúa Con gọi Chúa Cha là Thiên Chúa.Khác hẳn lời cầu ngày nào Ngài dạy :”Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Chúa Cha cũng có vẻ như ngoảnh mặt đi,khi Ngài hứng chịu lấy tội lỗi trần gian.Ngài cam chịu nổi đớn đau bi thống đó vì con người để chúng ta hiểu rằng : Khi con người mất Thiên Chúa thì tình trạng khủng khiếp chừng nào.

5 . Ta Khát ( Ga 19,28)

Đây là lời ngắn nhất trong bảy Di Ngôn, chỉ vỏn vẹn một tiếng Ta khát.Tận đáy tâm hồn Chúa chỉ bật ra một nổi thao thức:Ta Khát .

Hiện tượng khát nước là sự kiện bình thường của một người tử tội đóng đinh thập giá, do việc người đó mất quá nhiều máu trong người. Nhưng ở đây, chắc chắn Gioan không có ý nói tới điều đó mà nói đến nghĩa thiêng liêng. Đức Giêsu khao khát thông truyền hiệu quả cuộc khổ nạn của Người là Ơn cứu độ cho tất cả mọi người và như thế thì lời Kinh thánh mới nên trọn.Ý nghĩa của lời Ta Khát gắn liền với việc “để lời kinh thánh được nên trọn”. Lời Kinh Thánh có thể hiểu là Lời các Tiên tri trong Cựu ước loan báo về sứ mạng Cứu thế của Đấng Messia; Lời Kinh Thánh còn có thể hiểu là chính công việc cứu thế của Đức Giêsu. Vì thế, Đức Giêsu biết rằng sứ mạng cứu thế của Người đã được thi hành trọn vẹn và đầy đủ; kể từ nay bắt đầu giai đoạn mới của lịch sử cứu độ, con người sẽ lãnh nhận hiệu quả do cuộc khổ nạn người đem đến thì Ngài nói : Ta Khát.

Trong Phúc âm Gioan, từ ngữ “khát” thường chỉ nguyện vọng sâu xa của con người khát mong những hồng ân của Thiên Chúa vào thời Đấng Messia “Ai uống nước Ta ban thì đời đời sẽ không còn khát nữa,nước Ta ban sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,13); ” Ai đến với Ta sẽ không hề đói,và kẻ tin vào Ta sẽ không hề khát bao giờ” ( Ga 6,35); “ Ai khát hãy đến với Ta,ai tin vào ta hãy đến mà uống ! Như kinh thánh đã nói : Tự lòng Ngài sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” ( Ga 7,37).

Như thế Di Ngôn “Ta Khát” chính là nguyện vọng sâu thẳm của Chúa muốn mọi người lãnh nhận ơn cứu độ mà cuộc khổ nạn Ngài đem đến cho thế gian.

6 . Mọi sự đã hoàn tất ( Ga 19,30)

Mọi sự là sự gì ? thưa là Thánh ý Chúa Cha. Lật trong sách Tin mừng rất nhiều chỗ nói “để ứng nghiệm lời Thiên Chúa,để lời các Ngôn sứ được hoàn tất”.Trong cuộc đời dương thế, Đức Giêsu luôn thực thi Thánh ý. Và giờ đây trong giây phút cuối đời trên thập giá, hình như Đức Giêsu làm bảng tổng kết : mọi sự Chúa Cha đã hoạch định, Ngài đã chu toàn, mọi sự đã hoàn tất từ ngày lọt lòng mẹ tại Bêlem cho đến nghiêng đầu trước khi chết.

Công cuộc cứu độ trần gian đã được thể hiện. Đây là lời Ngài trình lại với Chúa Cha và đây cũng chính là lời loan báo sự chiến thắng của Ngài.Quyền lực bóng tối đã giết được thân xác Ngài,vị vua Messia. Nhưng qua cái chết này, ơn cứu độ được trao ban cho mọi người và giải thoát con người khỏi vòng cương toả của bóng tối, tội lỗi, satan. Đúng như Thánh Gioan đã suy niệm “Sự sáng đã rạng trong tối tăm và tối tăm đã không triệt được ánh sáng’ ( Ga 1,5).

7. Lạy Cha ! con phó thác linh hồn con trong tay Cha ( Lc 23,46)

Lời thứ sáu là lời biệt ly trần gian. Lời thứ bảy là lời khải hoàn thiên quốc.

Chúa Kitô, Đấng từ trời xuống,đã chu toàn nhiệm vụ, hoàn thành cuộc hành trình, nay lại trở về cùng Chúa Cha để tỏ niềm tôn phục Đấng đã phái Ngài đi thực thi công cuộc cứu chuộc thế gian: “Lạy Cha,Con phó thác linh hồn con trong tay Cha”

Ba mươi năm trước, Ngài từ bỏ Nhà Cha để đến một xứ xa lạ là trần gian. Ở đó, Ngài sống cuộc đời tiêu xài không kể mức độ nào cả. Quyền năng và sự khôn ngoan được Ngài phân phát vô số kể. Ân sủng và lòng ái tuất được Ngài chuẩn ban cách quãng đại. Đến giờ sau hết, Ngài còn ban luôn cả bản thể của mình cho kẻ tội lỗi. Và Ngài đã đổ đến giọt máu cuối cùng để làm giá cứu chuộc thế gian.Trên đường về Nhà Cha, từ Thập giá Ngài dâng lên Chúa Cha lời nguyện hoàn hảo nhất ”Lạy Cha, con phó thác linh hồn con trong tay Cha”.

Sau khi đã hạ mình xuống ở giữa những con cái hư mất của nhà Ít-ra-en, Ngài đã phung phí thời giờ của Ngài với những người đau ốm tật nguyền, với những người tội lỗi. Ngay cả với những gái điếm, Ngài cũng hứa cho họ vào Nước của Cha Ngài. Sau khi đã bị đối xử như một tên tham ăn, như một bợm nhậu, như một người bạn của bọn thu thuế và tội lỗi, như một người Sa-ma-ri-a, một người bị quỷ ám, một kẻ phạm thượng; sau khi đã hiến dâng tất cả mọi sự, ngay cả thân xác và máu Ngài; và khi linh hồn Ngài cảm thấy một nỗi buồn sâu xa, hấp hối, phiền sầu; sau khi đã đi tới đáy của sự tuyệt vọng, Ngài muốn mặc lấy nơi mình sự bị bỏ rơi bởi Cha, lìa xa ngưồn Nước Hằng Sống, Ngài đã kêu lên từ Thánh Giá nơi Ngài bị đóng đinh: ”Ta khát”. Ngài đã yên nghỉ trong bụi đất và bóng đêm sự chết. Ngài đã mang lấy tội lỗi của chúng ta,Ngài đã gánh hết những đau thương của chúng ta. 

Phó thác linh hồn cho Chúa Cha, thân xác Ngài trao trong tay Đức Mẹ.Từ chén cứu chuộc những giọt máu cuối cùng nhỏ xuống nhuộm đỏ cây thập giá.

Đây cũng là giờ bi thảm nhất của Đức Mẹ.Có nổi đớn đau nào hơn của nổi đớn đau của người Mẹ ôm xác người con yêu dấu? Đức Giêsu sinh ra trong vòng tay mẹ hiền, đến chết vẫn ở trong vòng tay Mẹ từ ái.

Chúa Giêsu đã để lại sứ điệp cuối cùng: Bảy Di Ngôn trên thánh giá.Trong cao điểm mầu nhiệm cứu độ, Chúa đã mạc khải tình yêu hiến tế qua Bảy Di Ngôn do lòng yêu thương. Những lời này vang dội qua mọi thời đại, xuyên qua tâm trí nhân loại, cải hoá và dẫn đưa bao linh hồn về với Chúa.

Calvê nơi hành hình tội nhân, giờ đây đã trở thành ngọn núi đầy hấp dẫn lôi cuốn thế giới đến chiêm ngắm và đón nhận tình yêu của Đấng chịu đóng đinh.

Linh mục Giuse Nguyễn Hữu An
(Viết theo cuốn:Trên đỉnh cao thập giá của ĐGM Fulton Sheen
Đọc thêm…
Comments
0 Comments